Vật liệu xây dựng không nung là xu hướng của tương lai

Vật liệu xây không nung là gì?

Hiểu đơn giản rằng là loại vật liệu được làm từ những phụ phẩm, phế thải hoặc các loại cốt liệu thông qua quá trình tạo hình, đóng rắn mà không cấn sử dụng đến nhiệt. Quá trình sản xuất loại vật liệu này không gây ảnh hưởng môi trường nên còn gọi là vật liệu xanh.

Vật liệu xây dựng không nung có nhiều ưu điểm, thân thiện với môi trường

Gạch không nung ra đời đã khắc phục được các nhược điểm của gạch đất nung truyền thống như không cần sử dụng đất nông nghiệp, không trải qua công đoạn đốt lò nên sẽ tiết kiệm được nguồn nhiên liệu, gián tiếp hạn chế nạn chặt phá rừng… và giảm đáng kể lượng CO2 thải ra môi trường.Bên cạnh đó, công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng không nung cũng tận dụng được nhiều nguồn nguyên liệu sẵn như cát, mạt đá… và chất thải trong sản xuất công nghiệp như tro, xỉ, thạch cao của cá nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất thép và các cở sở công nghiệp. Các sản phẩm này có cường độ chịu lực, khả năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm tốt. Với diện tích lớn gấp từ 2 đến 11 lần thể tích của gạch nung truyền thống, gạch không nung sẽ rút ngắn thời gian xây dựng, giảm đáng kể chi phí.

Với những tính năng ưu việt, từ năm 2014, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp cùng các cơ quan liên quan triển khai dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” dần thay thế dần gạch đất sét nung truyền thống đáp ứng nhu cầu ngày một cao của ngành xây dựng, song loại vật liệu này chưa đáp ứng được kỳ vọng.

Chương trình phát triển gạch không nung đến năm 2020 của Bộ xây dựng với mục tiêu: thị phần sản xuất gạch không nung sẽ tăng lên 30-40%. Nhưng đến nay, thị phần này đã không như mong muốn đề ra.

Theo ông Trần Anh Tài, Chủ tịch Tập đoàn PH – đơn vị có uy tín trong việc sản xuất gạch không nung, có nhiều nguyên nhân khiến sản phẩm này chưa phát triển đúng tiềm năng dù có nhiều cơ chế hỗ trợ.

Nguyên nhân đầu tiên là thói quen sử dụng của người Việt. Họ đã quá quen với gạch, ngói nung truyền thống mà chưa biết đến các sản phẩm tiên tiến. Điều này còn tác động đến các đơn vị xây dựng nhà ở. Các chủ đầu tư bất động sản hiểu được tính năng của vật liệu xây dựng không nung và muốn sử dụng trong dự án của mình nhưng người mua nhà lại không biết điều đó.

Bên cạnh đó, vật liệu không nung còn chưa hấp dẫn các doanh nghiệp lớn do còn bị hạn chế bởi chính sách thuế, phí. Mặt khác, đội ngũ nhân lực trình độ cao phục vụ cho nghiên cứu phát triển, sản xuất thiết bị chế tạo vật liệu này còn thiếu và yếu, các mẫu máy sản xuất, chế tạo thường do các doanh nghiệp tự nghiên cứu, phát triển theo kinh nghiệm hoặc chép mẫu của nước ngoài bởi hệ thống dây chuyền thiết bị sản xuất công suất lớn, có tính tự động hóa cao được nhập khẩu từ Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Nhật Bản… với giá thành không hề rẻ.

“Một số sản phẩm không nung thời kỳ đầu cũng có những nhược điểm nhất định. Tuy nhiên, loại vật liệu này cũng chưa được truyền thông đúng mức nên chưa tác động vào tiềm thức của người tiêu dùng Việt”, ông Tài cho biết.

Ông Trần Anh Tài cho biết, các nước phát triển đều đã nói không với gạch nung và sử dụng các vật liệu thân thiện, vật liệu nhẹ. Tuy nhiên, ở Việt Nam, sản phẩm này vẫn chưa được chú trọng và phát triển đúng tiềm năng.

Xem thêm:  Alu vân gỗ và những ứng dụng trong cuộc sống

Mới đây, P.H đã nghiên cứu và sản xuất thành công tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn theo công nghệ đùn ép với nhiều ưu điểm để thay thế việc sử dụng gạch viên truyền thống và đã được áp dụng trong thi công xây dựng công trình của tập đoàn. Sản phẩm này sau khi đưa vào thử nghiệm đã được Viện Khoa học công nghệ xây dựng – Bộ xây dựng cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn – đủ tiêu chuẩn đưa vào thi công ứng dụng tại các công trình xây dựng.

“Người mua nhà chính là người được hưởng lợi nhất do khi ứng dụng vật liệu nhẹ như tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn sẽ rút ngắn thời gian thi công, với khả năng cách âm, cách nhiệt, chịu ẩm của tấm tường tốt hơn phương pháp truyền thống do đó dự án sẽ đảm bảo được chất lượng khi đưa vào sử dụng”, ông Tài cho biết thêm.

Đánh giá về tiềm năng của vật liệu không nung và tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn, ông Tài cho rằng, không chỉ giải quyết nhu cầu xây dựng của các công trình cao tầng ở các thành phố, sản phẩm này đang còn nguyên một thị trường lớn là nông thôn mà vẫn bị bỏ ngỏ.

“Chẳng có lý do gì một sản phảm tốt lại không được thị trường đón nhận và tôi sẽ quyết tâm phát triển vật liệu không nung đến cùng. Chúng tôi đang ứng dụng vật liệu không nung tại các dự án của tập đoàn như P.H Hưng Yên, dự án nhà ở xã hội Nha Trang, P.H Complex Nha Trang và nhiều công trình trọng điểm khác trên cả nước”, ông Trần Anh Tài nói.

Có những loại vật liệu xây không nung nào?

Gạch Block

Hay còn gọi là gạch bê tông cốt liệu. Đây là loại gạch phổ biến và chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các loại vật liệu xây không nung. Gạch Block được sản xuất bằng ép bán khô hỗn hợp xi măng và cốt liệu nhỏ như mạt đá, xỉ than, cát. Cường độ của gạch khá cao từ 7,5 đến 20MPA , độ hút nước thấp nên có thể sử dụng làm tường ngăn, tường ngoài chịu lực với gạch đặc và gạch có độ rỗng thấp.

Gạch này đòi hỏi phải có thiết kế thi công, một số vật liệu và phụ kiện thi công đi kèm, đội ngủ thợ được huấn luyện nắm được kỹ thuật xây dựng. Với đơn vị gần các mỏ đá, nhà máy nhiệt điện rất phù hợp để sản xuất loại gạch này.

Gạch nhẹ AAC

Gạch chưng áp AAC được sản xuất bằng cách chưng hấp dưới áp suất hỗn hợp vôi-cát nghiền mịn, xi măng , có thể thay cát bằng tro bay. Phụ gia tạo khí là bột nhôm Al. Gạch này có liên kết chủ yếu là các hydrosilicat canxi tạo thành sau khi chưng hấp áp suất, có cấu trúc lỗ rỗng kín và kích thước nhỏ. Vì vậy gạch này có khối lượng từ 500-800kg/m3 và nổi được trên mặt nước. Cường độ gạch từ 4-5MPA. Gạch có độ hút nước cao và phải xây bằng loại vữa chuyên dụng trộn sẵn.

Ưu điểm lớn nhất của gạch AAC là tốc độ xây dựng khá nhanh, tiết kiệm lao động, giảm tải lên các kết cấu móng và nền.

Hiện nay với khí hậu nóng ẩm của Việt nam nên loại gạch này bộc lộ nhiều nhược điểm như dễ bị thấm nứt và chỉ sử dụng để xây trong nhà. Độ cứng thấp nên không xây tường ngoài và các công trình an ninh. Ngoài ra cần có dụng cụ và đội ngủ thi công được đào tạo bài bản. Với những đơn vị gần các nhà máy nhiệt điện, có nguồn tro bay dồi dào rất thích hợp để phát triên loại gạch này.

Gạch xi măng đất ép

Loại gạch được ép với hỗn hợp xi măng đất có cường độ cao, tuy nhiên  hệ số hoá mềm không cao thường bị suy giảm cường độ khi ngâm nước.

Xem thêm:  Trần nhựa giả gỗ bảo nhiều 1m2? Có nên sử dụng không?

Loại gạch này thường có khối lượng nặng, thi công vất vả và tốn nhân công. Chủ yếu dùng xây nhà thấp tầng và phải trát chống thấm kỹ  đối với tường ngoài.

Khi sản xuất, khuôn ép bán khô nhanh bị mòn, lượng xi măng sử dụng trong cấp phối khá cao từ 12-20%  tuỳ loại đất hay cốt liệu nên làm giá thành viên gạch tăng. Loại này phù hợp ở những vùng có nguồn đất tự nhiên dồi dào, thuế thấp.

Đá chẻ

Là loại đá tự nhiên, được chẻ từ một khối đá lớn, đá có màu sắc đồng đều, có vân đá và dễ dàng ốp lát. Đá chẻ có nhiều màu sắc, phổ biến nhất là màu xanh đen, vàng, lông chuột. Đá chẻ tự nhiên có kích thước không đồng nhất và được các thợ xây ốp lát một cách khéo léo tạo nên sự phá cách cho bức tường

Vật liệu này chủ yếu ở gần các khu vực khai thác. Loại vật liệu này có khối lượng rất nặng và khi thi công rất khó khăn. Chủ yếu xây dựng các công trình gần dưới 100km.

Tấm tường nhẹ AAC

Được sản xuất bằng vật liệu nhẹ AAC cắt thành dạng panel có kích thước dầy 80-150mm, rộng 600mm, dài 2400-4000mm. Thường để chống gãy khi vận chuyển  cẩu lắp và thi công người ta dùng lưới thép hàn D3-5mm bên trong tấm ngay trong quá trình tạo hình.

Loại này có ưu điểm giống gạch xây AAC là thi công rất nhanh, tiết kiệm nhân công. Thường được dùng cho vách ngăn và tường ngăn, không nên dùng cho tường ngoài và khi thi công lắp đặt không cần trát. Giá thành cao hơn viên xây AAC.

Tấm 3D

Có cấu tạo là hai lớp lưới thép D3-5mm cường độ cao, liên kết dạng 3D – thanh chống xiên giữa hai lớp. Giữa hai lớp lưới thép là xốp Polystyrene định vị.

Khi thi công, người ta thực hiện phun ướt vữa xi măng cát, phủ kín cả hai mặt tường và xoa phẳng. Tấm 3D có ưu điểm thi công lắp đặt rất nhanh nhưng việc phun phủ vữa xi măng cát hai mặt và xoa phẳng làm thời gian thi công hoàn thiện kéo dài, tốn vật liệu, môi trường bụi, ồn. Yêu cầu phải có các dụng cụ chuyên dụng và đội ngũ thi công lành nghề. Giá thành cao không cạnh tranh được với các loại vật liệu xây khác nên chỉ dùng khi nâng tầng, cải tạo công trình hoặc một số yêu cầu đặc biệt khác.

Tấm Acotec

Được sản xuất bằng phương pháp đúc đùn hỗn hợp bê tông xi măng cốt liệu nhỏ, có lỗ rỗng thông xuốt chiều dài tấm. Tấm có thể có sợi thép nhỏ D2mm để gia cường. Tấm có khối lượng thể tích từ 1200-1600kg/m3 tuỳ theo là sử dụng cốt liệu nhẹ- sỏi keramzite, perlite, đá bọt hay cốt liệu cát và đá mi hạt nhỏ.

Thi công tấm Acotec đòi hỏi có máy , dụng cụ và vật liệu chuyên dùng cùng với đội ngũ công nhân được huấn luyện. Tốc độ thi công nhân, tiết kiệm nhân công. Dùng xây tường nhà công nghiệp hoặc nhà cao tầng rất phù hợp.

Tấm thạch cao chống cháy

Được làm từ tấm thạch cao gia cường sợi và có phụ gia  có hệ xương khung bằng gỗ hoặc thép profile mỏng để ổn định liên kết và chịu lực. Tấm thạch cao có khối lượng thể tích tường rất thấp từ 300-800kg/m3. Sau khi thi công không cần chát tường, chỉ cần bả và hoàn thiện. Tấm thạch cao thường dùng cho toà nhà cao tầng, đa năng hỗn hợp. Tốc độ thi công lắp đặt rất nhanh không cần dùng nước, kết hợp thi công cách âm, điện nước, có thể tuỳ biến kiến trúc dễ dàng. Tấm thạch cao và hệ tường thạch cao có khả năng tái sử dụng gần hết vì vậy ít ảnh hưởng đến môi trường xây dựng. Giá thành cao